Hiện nay, ở Bắc Kinh đang có cuộc "Đại hội toàn quốc của thanh niên hăng hái xây dựng chủ nghĩa xã hội", với 1.527 đại biểu nam nữ thanh niên do các nhà máy, các nông thôn, các cơ quan, các trường học, các đơn vị bộ đội cử ra.

Đó là những thanh niên nồng nàn yêu nước, họ đã đưa xuân xanh đẹp tốt và năng lực dồi dào dâng cả cho Tổ quốc. Họ không sợ khó, không sợ khổ, đã làm vượt mức những công việc Đảng và Chính phủ đã giao cho họ.

Trung Quốc có những đội thanh niên đột kích, luôn luôn thi đua vượt mức đã định và sáng tạo những thành tích mới, về tăng năng suất và tiết kiệm. Vài thí dụ:

Đội đột kích của Vũ Xuân Hòa (làm gạch ngói), 6 tháng đầu năm đã tăng năng suất hơn 76%. Sau khi học tập kế hoạch 5 năm, họ quyết định tăng 89%.

Đội Chu Duy Cần ở xưởng đóng tàu (Đại Liên). Tháng 6 năm nay là 2 năm rưỡi của kế hoạch 5 năm, mà đội đã làm xong chương trình sản xuất của 4 năm.

Đội Trương Bách Phát, trong 3 tháng luôn luôn tăng năng suất 34% và đã tiết kiệm được 3.800 tấn gang.

Thanh niên nông dân đã trở nên "đầu tàu" trong phong trào thi đua ở nông thôn.

Thanh niên ở 10 huyện trong tỉnh Hà Nam đã tích trữ hơn 40 vạn xe phân để bón ruộng.

23.600 thanh niên ở huyện Bái Tuyền (tỉnh Hắc Long Giang) đã tổ chức những đội tiết kiệm. Trong 10 ngày mùa ngô vừa qua, họ đã nhặt được 109.000 cân hạt ngô rơi rớt ở ruộng.

Các ngành thương nghiệp, văn hóa, giáo dục, vệ sinh, v.v., cũng có những đội đột kích và nảy nở nhiều chiến sĩ thi đua gương mẫu.

Được Đảng và Chính phủ săn sóc, được những năm kháng chiến dùi mài, thanh niên Việt Nam ta cũng hăng hái. Đoàn Thanh niên ta cần có kế hoạch thiết thực như thanh niên Trung Quốc, để tổ chức, huấn luyện, lãnh đạo toàn thể thanh niên góp phần xứng đáng vào công cuộc củng cố miền Bắc, chiếu cố miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Đoàn kết quần chúng, vượt mọi khó khăn, ra sức học hành, tiến bộ mãi mãi - đó phải là khẩu hiệu của thanh niên ta.

C.B.

------------

- Báo Nhân Dân, số 576, ngày 30-9-1955, tr.2.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.152-153.

Tin liên quan